trần thủ độ và trần hưng đạo

Khách Sạn Fortune - Địa chỉ: 700 Trần Hưng Đạo, Phường 2, Quận 5, Hồ Chí Minh Tọa lạc tại quận 5 nhộn nhịp, sôi nổi liền kề trung tâm quận 1 Sài Gòn thân yêu, Fortune 700 có vị trí đắc địa, nổi bật trên cung đường Trần Hưng Đạo đã chính thức khai trương phục vụ quý khách hàng. Nhà sách nằm ngay mặt tiền đường Trần Hưng Đạo, không gian rộng rãi, có bãi gửi xe riêng ngay bên hông (5K/lượt). Có dịch vụ tô tượng và tranh cát cho mấy em nhỏ ngay tầng lửng. Có khu bán đồ chơi trên tầng 2. Đa dạng văn phòng phẩm và các loại sách, truyện. Đề thi Toán 10 học kì 1 trường THPT chuyên Trần Hưng Đạo có đáp án và lời giải chi tiết gồm 25 câu trắc nghiệm. Tìm tọa độ điểm Đề Kiểm Tra Hoá 9 HK 1 Phòng GD&ĐT Quận Thủ 08-11-2021. Đề Thi Toán 11 Học kì 1 Trường THPT Lương Thế Cảm nghĩ về bài Thái sư Trần Thủ Độ hay nhất - Tuyển tập văn mẫu lớp 10 với trên 500 bài văn phân tích, dàn ý, cảm nhận, nghị luận của tất cả các tác phẩm giúp bạn học tốt môn Ngữ văn lớp 10 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Ngữ văn. - Những tinh huống đầy kịch tinh nêu trên góp phần khắc hoạ nổi bật bản tĩnh cứng cỏi và nhân cách cao thượng của Thái sư Trần Thù Độ: thẳng thắn, cầu thị, độ lượng, nghiêm minh, chí công vô tư, luôn đặt việc nước lên hàng đầu. - Sử gia Ngô Sĩ Liên viết về Trần Thủ Độ bằng thái độ trân trọng, yêu mến và cảm phục. Forster Co Ax Single Stage Press. Suốt hơn 2500 năm đó, Việt Nam cũng đã trải qua hàng nghìn cuộc đấu chống giặc ngoại xâm lớn nhỏ khác nhau và cũng đã xuất hiện ko biết bao nhiêu những vị tướng tài kiệt xuất đứng ra bảo vệ bờ cõi. Với đó, chắc hẳn không thể nào không nhắc tới Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, một vị tướng tài kiệt xuất từ thời nhà Trần đã từng 3 lần chống lại quân Mông Nguyên bảo vệ đất nước. Ông cũng là vị tướng duy nhất trong lịch sử Việt được phong thánh. Vậy vì sao Trần Hưng Đạo được phong thánh và là vị tướng duy nhất được phong thánh trong khi trong lịch sử Việt Nam cũng không vô kể những vị tướng tài? Cùng Đồ Đồng Dung Quang Hà tìm hiểu và trả lời thắc mắc qua bài viết sau đây nhé!Tiểu sử cuộc đời Hưng Đạo Vương Trần Quốc TuấnTrần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn, tước hiệu là Hưng Đạo Đại Vương. Ông sinh năm 1226 tại kinh đô Thăng Long, nguyên quán ở Phủ Thiên Trường nay thuộc xã Lộc Vượng, TP. Nam Định và mất vào năm 1300 tại Vạn Kiếp. Ông là con trai của Trần Liễu và là cháu nội từ Trần Thái Quốc Tuấn ra đời khi họ nhà Trần vừa mới thay thế nhà Lý khiến cho vua một đất nước loạn ly, đói kém. Lúc này, Trần Thủ Độ, một tôn thất tài tình đã xếp đặt bày mưu để giữ cho thế nước chông chênh thành bền vững. Bấy giờ, Trần Cảnh tức vua nhà Trần thời bấy giờ còn nhỏ chỉ mới 11 tuổi, vợ là Lý Chiêu Hoàng vị vua chung cục từ dòng họ Lý. Vì nhường nhịn ngôi cho chồng mà trăm họ và tôn thất nhà Lý dị nghị nhà Trần cướp ngôi. Trần Thủ Độ vô cùng lo giờ, Trần Liễu cha từ phía Trần Quốc Tuấn lấy công chúa Thuận Thiên chị gái từ phía Lý Chiêu Hoàng đang với thai. Trần Thủ Độ ép Liễu phải dường vợ cho Vua để chắc có một đứa con cho Trần Cảnh. Trần Liễu nổi loạn nhưng đã được Trần Thủ Độ dẹp tan và tha chết. Song điều này ko dẹp nổi lòng thù hận từ vậy mà Ông đã tìm thầy giỏi dạy cho con trai mình thành bậc văn võ toàn tài, ký thác cho con tức Trần Quốc Tuấn để con thay cha trả mối thù sâu nặng này. Với bé, Trần Quốc Tuấn đã là một bậc kỳ tài. Lớn lên, Ông càng tỏ ra thông minh xuất chúng hơn người, văn võ song toàn. Bấy giờ quân Nguyên đang tiến đánh nước ta, Trần Quốc Tuấn đã bắt tay khiến hòa với Trần Quang Khải con của Trần Cảnh để cùng nhau đánh giặc ngoại, bảo vệ đất đáp vì sao Trần Hưng Đạo được phong thánh?​Dưới sự lãnh đạo từ phía Trần Hưng Đạo, quân và dân nhà Trần đã vượt qua vô vàn thử thách, lấy “ít địch nhiều”, lấy “yếu thắng mạnh” 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược hùng ra, ông còn là một nhà văn với tác phẩm hịch tướng sĩ nổi tiếng vang lừng đất nước. Ông cũng đã soạn 2 bộ sách để dạy các tướng soái đương thời cầm quân đánh giặc đó là “binh thư yếu lược” và “vạn kiếp tông bí truyền thư” đúc kết đa dạng kinh nghiệm quý báu về việc đánh giặc, giữ nước để truyền lại cho hậu những chiến công vang dội từ phía mình, Trần Quốc Tuấn là một trong những đại diện tiêu biểu của 14 vị anh hùng tiêu biểu dân tộc Việt Nam. Ông đều được trần giới suy tôn là Đức Thánh Trần và là vị tướng duy nhất được phong thánh tại Việt nay, để ghi nhớ công ơn và sự hy sinh to lớn của ông, phổ biến người thường đặt những bức tượng Trần Quốc Tuấn bằng đồng để thờ cúng, trang trí để cầu mong gia đình được bình sao Trần Hưng Đạo được phong thánh?Trần Hưng Đạo là vị tướng duy nhất được phong thánh vậy vì sao Trần Hưng Đạo được phong thánh? Ông là người như thế nào? Dưới đây là một số nguyên nhân sở hữu thể giảng giải cho việc vì sao Trần Hưng Đạo được phong thánh và là vị tướng duy nhất được phong thánh trong lịch một vị tướng tài ba kiệt xuất, nhà chính trị lỗi lạcHưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là một trong những vị tướng tài tình kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam. Ông không chỉ là một vị tướng giỏi cầm quân mà còn là một nhà văn kiệt xuất, là biểu trưng từ một vị hiền tài văn võ song Nguyên – Mông vốn là một đội quân lớn mạnh, Trần Quốc Tuấn cũng không sợ hãi mà hơn hết chính ông lại là người cầm quân dẫn dân 3 lần đương đầu và đánh bại quân Nguyên Mông bảo vệ lãnh thổ dân Trần Hưng Đạo cao 1m27 khảm tam khí tinh xảo​>> Xem ngay Những lưu ý khi mua và sử dụng tượng Đức Thánh TrầnÔng không chỉ bảo vệ tổ quốc mà còn đã để lại cho dân tộc ta những tư tưởng chính trị tiến bộ cùng với tài thao lược bất hủ với 2 cuốn binh thư “binh thư yếu lược” và “vạn kiếp tông bí truyền thư” được lưu truyền của đời này sang đời khác, giúp con cháu đời sau với thể học theo tài thao lược từ phía vị tướng lĩnh luôn có lòng thương dân, yêu nướcMột trong những lý do khác để trả lời cho câu hỏi vì sao Trần Hưng Đạo được phong thánh đó là ông là một bậc tướng tài vừa với đủ tài sở hữu đủ đức, có lòng thương dân và yêu nước. Không chỉ giỏi việc cầm quân, ông còn là người rất biết giữ chữ tín, cẩn trọng trong từng lời nói và biết suy nghĩ cho cả đại đồng Trần Quốc Tuấn dát vàng 9999 tinh xảo​>> Xem chi tiết sản phẩm Tượng đồng Trần Quốc Tuấn dát vàng 9999 tinh xảoÔng là một vị tướng nhân bởi ông thương dân, thương quân, là người soi đường chỉ cho quân dân con đường sáng. Ông là một vị tướng nghĩa bởi ông xem việc phải hơn điều lợi, Là một vị tướng chí bởi ông biết lẽ đời sẽ dẫn mình tới nơi đâu. Là một vị tướng dũng bởi ông sẵn sàng đứng dậy cầm quân đánh giặc dẫu biết quân giặc vô cùng to mạnh. Và là một vị tướng tín bởi bởi ông luôn minh bạch, rõ ràng trong hầu hết chuyện, toàn bộ việc, luôn thanh minh cho quân quân nhân biết theo ông sẽ được gì, và trái lời ông sẽ nhận hậu quả ra đã từng nói “ Bệ hạ hãy chém đầu thần trước, rồi hãy hàng”. Câu nói này chính là minh chứng rõ nhất về khí phách từ ông, cũng là khí phách của nước Đại Việt, là đỉnh cao của lòng yêu nước khiến rực sáng dân tộc tới tận ngàn vị tướng luôn đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầuKhông chỉ tài ba, ông còn lưu được tiếng thơm muôn thuở bởi tinh thần trung trinh ái quốc, biết đặt nợ nước lên trên cả thù được thân sinh mình tức Trần Liễu gửi gắm mối thù cướp vợ và từng trăn trối cho ông rằng “Con phải trả thù cho cha, rồi nhân đó, đoạt luôn ngôi báu thì cha tại dưới suối vàng mới với thể thanh thản im nghỉ được”. Ông tuy nhớ lời trăn trối từ phía cha nhưng vốn chưa bao giờ với ý định thực hiện. Trước cường địch, ông còn ra mặt đứng ra chủ động giải mối hận thù giữa hai gia đình để đồng tâm đánh thắng quân Nguyên hung Trần Quốc Tuấn đồng đỏ khảm tam khí đẹp, độc đáo​>> Xem chi tiết sản phẩm Tượng Trần Quốc Tuấn đồng đỏ khảm tam khí đẹp, độc đáoTrong chiến tranh, ông vẫn luôn hộ giá bên vua, tay chỉ cầm mỗi cây gậy bịt sắt, những trong ngoại trừ vẫn với lời dị nghị sợ ông sát vua. Sau này ông cũng bỏ luôn cây gậy bịt sắt và chỉ chống gậy ko lúc kề cận với vua. Từ đó sự nghi kỵ cũng dần chấm dứt. Ông luôn chú ý tới từng việc nhỏ để tránh hiềm nghi, yên lòng quan, yên ổn lòng dân, đoàn kết mọi người vì nghĩa to dân tộc. Một tấm lòng son sắt, hiếu trung vì vua, vì chí, Trần Hưng Đạo còn là một người với thể biến quân thù thành bạn, trừng phạt chính con trai mình vì tội bất hiếu với vua, bất trung với cách con người Trần Quốc TuấnHưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ko chỉ biểu lộ mình là người giỏi bày binh, bố trận mà còn vô cùng biết bí quyết đối nhân xử những đối xử với vua toàn tâm, toàn ý với nước mà ông còn siêu rộng lượng với những người lầm đường lạc lối. Khi toàn thắng quay về, ông đã xin vua đốt bỏ hết những hồ sơ của những kẻ đầu hàng giặc, những kẻ phản nghịch để xóa hết thù hận, tránh cho kẻ lầm đường mang cảm giác tội lỗi hay bị cùng đường sẽ sinh loạn. Đó là tấm lòng khoan dung đại lượng từ một bậc anh hùng và là một bước nhìn xa từ phía vị quân Trần Quốc Tuấn bằng đồng vàng mộc đẹp​Cuộc đời ông chính là một bản hùng ca vang dội. Ông không vì thù nhà mà bỏ rơi quyền lợi của đất nước, của nhân dân mà luôn đặt nó lên hàng đầu. Ông là vị anh hùng kiệt xuất vừa có đức vừa có tài, văn võ song toàn. Đây cũng chính là những lí do có thể giải thích cho việc vì sao Trần Hưng Đạo được phong thánh và lại được người đời tôn sùng như tượng Trần Hưng Đạo trong nhà có ý nghĩa gì?Ngày nay, để tưởng nhớ công ơn to lớn của ông mà những bức tượng đồng về ông thường được sử dụng phổ biến trong cuộc sống cũng như trang trí nhà cửa. Đặt tượng ông trong nhà đó không chỉ là sự biết ơn, cảm kích của người đời sau đối với công ơn của ông mà còn là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và là cách để răn dạy con cháu sau này có thể phát triển tốt phong thủy, tượng danh nhân Trần Quốc Tuấn cũng là một vật phẩm phong thủy mang lại hiệu quả cao trong trấn trạch, trừ tà, xua đuổi điềm dữ, các vận khí xấu. Đặt tượng Trần Quốc Tuấn trong nhà sẽ giúp bảo vệ gia đạo được bình an, may mắn cũng như mang lại thuận lợi về mặt đất cát, gia trạch, tránh được các tai ương, vận xấu và những bệnh tật không mong Trần Quốc Tuấn dát vàng 9999 tinh xảo​Ngoài ra, bày tượng Trần Hưng Đạo trong nhà còn có đến sự thuận lợi, may mắn về đường sự nghiệp đặc biệt có lợi cho những người làm ăn marketing buôn bán. Dáng vẻ uy nghiêm từ tượng sẽ mang gia chủ tránh được những lời gièm pha, đố kỵ từ phía kẻ tiểu nhân. Với đó thu hút phổ biến vượng khí, tài lộc cho gia chủ. Ngày nay, gia chủ cũng có thể tìm thấy rộng rãi mẫu tượng Trần Quốc Tuấn được chế tạo dưới nhiều mẫu mã, kiểu dáng khác nhau như tượng đồng, tượng gỗ,…. tuy nhiên những mẫu tượng đồng vẫn luôn được phổ biến gia chủ phù hợp chọn lựa nhất. Trên đây là những chia sẻ từ phía Đồ Đồng Dung Quang Hà xung vòng quanh thắc mắc vì sao Trần Hưng Đạo được phong thánh. Hy vong qua bài viết này, gia chủ sẽ với thể tìm thấy được những ý nghĩa trong việc sử dụng tượng Trần Hưng Đạo.>> Xem ngay Những mẫu tượng Trần Quốc Tuấn bằng đồng đẹp, chất lượng và được ưa thích nhất hiện nay Trần Hưng Đạo chữ Hán陳興道; 1228 – 1300, tên thật là Trần Quốc Tuấn chữ Hán陳國峻, tước hiệu Hưng Đạo đại vương, là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần. Sau khi qua đời dân gian đã suy tôn ông thành Đức Thánh Trần 德聖陳 hay còn gọi là Cửu Thiên Vũ Đế 九天武帝. Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1285 và năm 1288. Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là "Trần Hưng Đạo" thay cho cách gọi đầy đủ là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn", vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ông. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.[1] Là con của thân vương An Sinh vương Trần Liễu và là cháu nội của Trần Thái Tổ, Trần Hưng Đạo có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần và vua Trần Nhân Tông gọi ông bằng bác. Năm 1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược. Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp. Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, nhà Nguyên sau khi Mông Cổ thống nhất Trung Hoa đe dọa đánh Đại Việt lần hai, Hưng Đạo vương được Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua Trần Nhân Tông lần lượt là em họ và cháu họ ông phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. Trên cương vị này, năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược do hoàng tử thứ chín Thoát Hoan. Sau những thất bại ban đầu, quân dân Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Hưng Đạo vương phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Trường Yên, Vạn Kiếp,... đánh đuổi hoàn toàn quân Nguyên khỏi biên giới. Năm 1288, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Khi tiếp tục được phong Quốc công tiết chế; Hưng Đạo vương khẳng định với vua Trần Nhân Tông "Năm nay đánh giặc nhàn". Ông đã áp dụng thành công chiến thuật của Ngô Quyền, đánh bại hoàn toàn thủy quân nhà Nguyên do các tướng Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi chỉ huy trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, buộc quân Nguyên lại phải rút về nước và vĩnh viễn từ bỏ tham vọng thôn tính phương Nam của họ. Tháng 4 âm lịch năm 1289, Trần Nhân Tông chính thức gia phong ông làm "Đại vương" dù chức quyền đứng đầu triều đình khi đó vẫn thuộc về Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải. Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp đến khi mất năm 1300. Trước lúc qua đời, ông khuyên Trần Anh Tông "Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".[2] Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến ngày nay. Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí, Phan Huy Chú xếp Trần Hưng Đạo đứng thứ nhất trong bốn “tướng có tiếng và tài giỏi” đời Trần trên Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão và Trần Khánh Dư. Cùng với đó là lời cẩn án “Danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo vương không mấy đời có; kiêm cả văn võ, thừa chí dũng, dựng nên công lao sự nghiệp kỳ vĩ mà giữ vững trung nghĩa… Ông không những là anh hùng của một thời đại mà cho đến các bậc tướng thần cổ kim cũng ít ai bì kịp”1. Trong những ghi chép có phần vắn tắt, nhà sử học TK XIX còn không ít lần tỏ lòng ngưỡng mộ và ngợi ca mối quan hệ tốt đẹp cũng như tấm lòng trung thành trước sau như một của Trần Quốc Tuấn với các vua nhà Trần. Trước đó gần nửa thế kỷ, sử thần Ngô Thì Sỹ cũng đánh giá Hưng Đạo vương có “lòng trung thành thấu đến mặt trời, mặt trăng; khí tiết động đến quỷ thần”, “thật đáng làm gương hàng trăm đời cho những người làm bề tôi”2. Trong lịch sử Việt Nam, đó là một chuẩn mực và mẫu mực của mối quan hệ vua tôi. Tháng 6 năm Canh Tý, niên hiệu Hưng Long thứ 8 1300, tức hai tháng trước khi qua đời, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lâm trọng bệnh. Vua Trần Anh Tông thân hành về phủ đệ của vương ở Vạn Kiếp. Đến bên giường bệnh, lo lắng hỏi thăm tình hình sức khỏe, nhà vua đồng thời tranh thủ ý kiến Trần Quốc Tuấn về kế sách ngừa giặc, giữ nước. Hưng Đạo vương tổng kết kinh nghiệm và bài học lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, nhấn mạnh nguyên nhân thắng lợi của nhà Trần trong ba lần kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông là bởi đã phát huy cao độ sức mạnh của “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà góp sức”. Lời di chúc ngắn gọn, nhưng súc tích, mang tính khái quát rất cao. Đó không chỉ là tâm huyết, trí lực của một nguyên lão trọng thần gắn bó cả cuộc đời với thời kỳ gian nan nhất nhưng cũng huy hoàng nhất của vương triều; mà còn là kinh nghiệm tổng kết nghệ thuật quân sự của vị đại tướng ba lần gánh trọng trách tổng chỉ huy quân đội cả nước đánh giặc, giữ nước. Suy rộng ra, đó còn là tư tưởng, đường lối chính trị của vương triều Trần. Cội nguồn sức mạnh, nguyên nhân của mọi thành công nhà Trần có được là bởi triều đại này đã xây dựng được một nền tảng chính trị vững chắc dựa trên ba yếu tố chính sách khoan hòa, thân dân; chính quyền vững mạnh, đoàn kết; và tinh thần gắn kết, nhất trí cao độ trong dòng họ Trần. Thật vậy, tư tưởng bao trùm trong đường lối trị nước của triều Trần là thân dân. Thiết chế tập quyền thân dân thời Trần thực chất là sự kế thừa, phát huy tinh thần của triều Lý, nhưng mang những màu sắc riêng, mới của thời đại. Và cũng không phải đợi đến khi Trần Hưng Đạo di chúc phải “khoan thư sức dân để lấy làm kế sâu rễ bền gốc”, nhà Trần mới thấm nhuần triết lý dĩ nông vi bản. Còn nhớ, ngay từ thưở mới kiến lập vương triều, Trần Thái Tông đã rất tâm đắc lời của quốc sư Trúc Lâm “Phàm là kẻ làm vua thì phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, phải lấy tấm lòng của dân làm tấm lòng của mình”. Vì vậy, ngai vàng quyền lực, ông “xem như chiếc giày rách, bỏ đi lúc nào cùng được”. Các vị vua về sau, từ những chính sách, pháp luật đến cách hành xử, các lời nói, việc làm cụ thể đều phản ánh tấm lòng yêu dân, coi trọng lê dân bách tính. Sử cũ chép rằng, một lần nọ, khi cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ nhất 1258 vào hồi gian nguy nhất, nhà vua muốn biết tình hình quân giặc đã truyền hỏi “Quân Nguyên ở đâu?”. Lão đánh cá đang xuôi thuyền sông Hồng, tên Hoàng Cự Đà, vốn là hầu cận của vua, ngang nhiên trả lời “Không biết, các ngươi đi mà hỏi những ai ăn xoài ấy”. Trước thái độ khi quân của Cự Đà, vua Trần không những không xử tội, mà còn tự trách mình vì đã đối xử không công bằng với những người dưới3. Chính quyền nhà nước thời Trần là sự kết hợp chặt chẽ giữa tầng lớp quý tộc tôn thất và đội ngũ quan liêu đang dần lớn mạnh. Khôn khéo và chính xác trong thuật dùng người, thưởng phạt công bằng, nghiêm minh và phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, nhất trí trong hàng ngũ quan lại chính là những yếu tố quan trọng giúp triều Trần tạo nên sức mạnh của cả bộ máy chính quyền. Điều này được phản ánh bằng nhiều câu chuyện sinh động chép trong sử cũ Một lần, có kẻ đàn hặc Trần Thủ Độ, trước mặt nhà vua khóc mà rằng “Bệ hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ thì quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?”. Trần Thái Tông tức tốc tới tư dinh Trần Thủ Độ, mang theo cả người đàn hặc và kể hết mọi chuyện với Thái sư. Trần Thủ Độ trả lời “Đúng như những lời hắn nói”. Rồi mang tiền lụa thưởng cho người ấy. Lần khác, Linh từ quốc mẫu ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân lính ngăn lại, về dinh khóc nói với Trần Thủ Độ “Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế”. Thủ Độ tức giận, sai người đi bắt tên lính. Người ấy nghĩ rằng mình chắc phải chết. Đến nơi, khi bị tra hỏi, người lính cứ theo sự thực trả lời. Trần Thủ Độ nói “Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa”. Bèn lấy vàng lụa thưởng, cho về. Thái Tông có lần muốn lập anh của Trần Thủ Độ là An Quốc làm Tể tướng. Thủ Độ biết việc mới tâu rằng “An Quốc là anh thần, nếu cho giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?”. Vua vì thế, bèn thôi4… Đánh giá về thuật dùng người của nhà Trần, sử thần Ngô Sỹ Liên TK XV nhận xét “Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm điện súy Phạm Ngũ Lão – TG thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, không chỉ có chuyên về nghề võ. Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông. Lê Phụ Trần thì dũng lược đứng đầu ba quân, một mình một ngựa xông pha trong trận giặc, tùy cơ ứng biến, chống đỡ cho chúa trong lúc gian nguy, mà tài văn học của ông đủ để dạy bảo thái tử. Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm…”5. Lê Quý Đôn cũng bình luận “Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ cho sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất”6. Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất ý chí trong tôn thất thực sự là một tư tưởng lớn, một chính sách đặc trưng của vương triều Trần. Bản thân các thành viên trong tộc Trần cũng luôn ý thức sâu sắc về những lợi ích chung, vì sự vững bền của cơ nghiệp nhà Trần. Vua Trần Thánh Tông 1258-1278 từng nói với người trong họ rằng “Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc”. Vua hạ chiếu cho các vương hầu tôn thất “khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau… Các vương hầu thời ấy không ai là không hòa thuận, kính sợ và cũng không phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng”7. Nhà Trần luôn ý thức rõ ràng trong việc xây dựng, không ngừng củng cố một tập đoàn dòng họ vững mạnh. Tuy nhiên, trong khối thống nhất ấy, giữa các cá nhân, không tránh khỏi những hiềm khích, hiểu lầm, thậm chí là mâu thuẫn. Điều đáng lưu ý, dường như không ít những khúc mắc, đều ít nhiều liên quan đến Trần Hưng Đạo. Chủ yếu, ông là nạn nhân, phải gánh chịu và giải quyết. Khi vừa tròn 20 tuổi, năm Tân Hợi 1251, Trần Quốc Tuấn chịu cái tang mất cha. Trong lúc hấp hối, An Sinh vương Trần Liễu gọi Quốc Tuấn đến bên trăng trối rằng “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Mâu thuẫn giữa gia đình An Sinh vương với bên dòng vua Trần bắt đầu từ khi vương triều mới được kiến lập. Trần Cảnh khi ấy mới 8 tuổi, được chú họ là Trần Thủ Độ chọn đưa lên ngôi, không phải anh là Trần Liễu, lúc đó đã 15 tuổi. Sau khi làm vua, vì Trần Cảnh không có con, Thủ Độ ép lấy công chúa Thuận Thiên, vợ Trần Liễu, khi ấy đang mang thai. Khởi binh mà không giành lại được vợ con, tuy được tha chết song lại bị đầy ra Đông Triều, Trần Liễu trong lòng càng vô cùng căm giận. Ông quyết chí phục thù bằng cách dốc sức đào tạo, tìm khắp thiên hạ “những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn”. Trần Quốc Tuấn vốn “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ”, càng khiến Trần Liễu yên tâm nhắm mắt vì đã tìm được người ủy thác. Năm Bính Thìn 1256, Vũ Thành vương Doãn – anh trai Trần Quốc Tuấn, vì những bất bình trong gia tộc có lẽ chủ yếu vẫn là giữa các con của Trần Liễu với dòng vua, thấy thất thế sau khi mẹ là Hiển từ Hoàng hậu vợ Thái Tông Trần Cảnh qua đời, đã mang theo vợ con trốn sang nước Tống, nhưng bị viên thổ quan phủ Tư Minh bắt đưa trả lại. Mối hiềm khích hai bên không những không được hóa giải, mà trong mắt các vua Trần và triều đình, thái độ chống đối của dòng máu An Sinh vương Trần Liễu càng trở nên rõ ràng. Tiếp đó, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai 1285, Thượng vị Chương Hiến hầu Trần Kiện – con thứ của Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang thực chất là em ruột của Trần Quốc Tuấn, đã cùng với liêu thuộc là Lê Tắc đem cả nhà và quân lính đầu hàng giặc Nguyên. Dù Trần Kiện sau đó đã bị gia nô của Trần Hưng Đạo bắn chết, nhưng sự chống đối của con cháu Trần Liễu một lần nữa khiến vua Trần phải nghi ngại, dè chừng. Bản thân Trần Quốc Tuấn cũng có những lúc không bằng lòng với các hoàng tử nhà Trần, tiêu biểu là với Trần Quang Khải. Hiềm khích đó càng trở nên khó giải quyết, khi cả hai đều là những đại thần đầu triều. Một người là Quốc công Tiết chế, chỉ huy cao nhất lực lượng quân đội toàn quốc; còn người kia là Thượng tướng Thái sư, đứng đầu đội ngũ quan lại triều đình. Nhưng cái cách mà Trần Hưng Đạo hóa giải mọi mâu thuẫn, như cách nhìn nhận của sử cũ, là “vượt trên thói thường”. Với Trần Quang Khải, Hưng Đạo vương dù là anh thuộc ngành trên, lại hơn tuổi, nhưng đã chủ động hòa giải hiểu lầm bằng một hành động rất thân tình – cởi áo, tắm cho em. Quốc Tuấn vừa tắm vừa vui vẻ nói “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Quang Khải cũng đáp “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho”. Từ đó, tình nghĩa giữa hai người ngày càng thêm thắm thiết. Lời di huấn phút lâm chung của cha, Trần Quốc Tuấn ghi nhớ trong lòng nhưng không cho là phải, và cũng không làm theo. Giữa thù nhà và trách nhiệm với giang sơn xã tắc, với cơ nghiệp nhà Trần, ông đã đặt chữ trung trên tất thảy. Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều trong tay, Hưng Đạo vương mới đem lời dặn của An Sinh vương nói lại với gia nô và các con trai của mình. Thái độ kiên quyết phản đối của Yết Kiêu và Dã Tượng, hợp với ý ông, khiến ông cảm động phát khóc và hết lời khen ngợi lòng trung tín của hai gia thần. Khi hỏi con trai cả là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, Quốc Nghiễn trả lời “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”. Trần Quốc Tuấn khen là phải. Ngược lại, ông đã vô cùng tức giận trước câu trả lời có ý phản nghịch của người con trai thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Ông tuốt gươm quát mắng “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra”, rồi toan giết Quốc Tảng, may nhờ Hưng Vũ vương van xin, ông mới tha tội cho. Ông dặn Hưng Vũ vương “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”8. Cũng vì những lời lẽ gay gắt đó, Trần Quốc Tảng sau này không dám sinh lòng khác, lại hết lòng theo cha đánh giặc, lập nhiều chiến công, được phong đến tước Đại vương. Con trai Quốc Tảng là Trần Quang Triều được phong Văn Huệ vương, con gái làm Hoàng hậu của vua Trần Anh Tông… Đó là cách Trần Quốc Tuấn nghiêm khắc dạy con, dạy cháu; cũng là thái độ kiên quyết của ông trước mọi ý đồ và hành động bất trung, bất nghĩa. Từ tư tưởng, tới cách hành xử và giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình, họ tộc, tất thảy đều khắc họa rõ nét khí tiết Trần Quốc Tuấn – một tấm lòng trung nghĩa, một nhân cách cao thượng. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là một cố mệnh đại thần trải bốn triều vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông. Trong quan hệ thân tộc, với các vua Trần, dù là cháu – con rể Thái Tông, là anh họ Thánh Tông, hay là bác – bố vợ Nhân Tông, là ông Anh Tông, Trần Quốc Tuấn đều hết mực trung thành, kính cẩn, thận trọng trong từng cử chỉ, lời nói, việc làm; luôn đúng mực giữ đạo phép vua tôi. Vì có công lao lớn, vua Trần Thánh Tông trao cho Trần Hưng Đạo quyền được phong chức từ tước minh tự trở xuống, tước hầu thì phong trước tâu sau. Nhưng cả cuộc đời, chưa ông bao giờ dùng quyền ấy để phong cho một ai. Chỉ trừ gặp lúc chiến tranh cấp bách, ông phong Lang tướng giả không phải Lang tướng thực cho nhà giàu đã nộp thóc làm quân lương. Trong cả ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông, Trần Quốc Tuấn luôn túc trực bên các vua Trần. Vì ông là người nắm binh quyền, lại sẵn mối hiềm cũ, khiến không ít người nghi ngại. Với một nhãn quan rất tinh tế, ông chủ động bỏ đầu bịt sắt nhọn, chỉ dùng gậy không mỗi khi đi cạnh vua. Hành động này được sử thần Ngô Sĩ Liên bình luận “Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử… mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa. Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy”9. Khi vua Thánh Tông đi đánh giặc, Trần Quang Khải theo hầu, bỏ không chức Tể tướng, lại đúng lúc có sứ phương Bắc đến. Thượng hoàng Thái Tông gọi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đến bảo “Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc”. Quốc Tuấn trả lời “Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Quang Khải. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn”10. Ngược lại, các vua Trần đều rất mực yêu mến, tin tưởng và kính trọng Trần Quốc Tuấn. Tháng 9 năm Thiệu Phong thứ 7 1257, quân Nguyên xâm phạm cương giới. Vua Trần Thái Tông ban chiếu, lệnh cho Trần Quốc Tuấn, khi ấy mới tròn 27 tuổi, thống lĩnh các tướng đem quân thủy bộ ra biên ải chặn giặc. Trong cuộc kháng chiến lần hai 1285 và lần ba 1288, Hưng Đạo vương đều được phong Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ lực lượng quân đội cả nước đánh giặc. Cả ba lần, ông đều không phụ sự ủy thác của vua Trần và sự trông mong của triều đình, quân dân Đại Việt. Mỗi lúc vận nước gian nguy, các vua Trần đều hỏi ý kiến Hưng Đạo vương với một thái độ rất ân cần, trọng thị. Trước kẻ thù là giặc Nguyên – Mông hùng mạnh, được nghe câu trả lời của vương “Phá được chúng là điều chắc chắn”, “năm nay đánh giặc nhàn”, hay “nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước”, các vua Trần càng vững dạ yên lòng, củng cố quyết tâm đánh giặc và thắng giặc. Sau khi đánh giặc thắng lợi, năm 1289, vua Trần tiến phong Trần Quốc Tuấn tước Đại vương, con cả Hưng Vũ vương Quốc Nghiễn làm Khai quốc công, con thứ Hưng Nhượng vương Quốc Tảng làm Tiết độ sứ. Đó là cách tưởng thưởng xứng đáng của vua Trần cho những công lao to lớn của cả gia đình Hưng Đạo vương. Khi biết tin vương lâm bệnh nặng, cả thượng hoàng và vua Trần đều về tận phủ đệ ở Vạn Kiếp, ân cần hỏi han sức khỏe. Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý tức ngày 3-9-1300, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời, thọ 70 tuổi. Cả nước khóc thương vô hạn. Vua Anh Tông cho bãi triều 10 ngày, cùng Thượng hoàng Nhân Tông đích thân về dự lễ tang, kính tế an ủi và xuống chiếu ban cho vương tước phẩm tột cùng Thái sư Thượng phụ Thượng Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại vương, và cho lập miếu thờ. Thượng hoàng Trần Thánh Tông lúc sinh thời từng ngự chế bài văn bia đặt ở sinh từ của Đại vương, tôn ông là bậc thượng vụ, sánh tựa công lao kỳ vĩ của Thái Công Vọng khi xưa giúp Vũ vương nhà Chu. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là một anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự, nhà chính trị – văn hóa lớn của lịch sử Việt Nam. Nhưng nhắc tới Trần Quốc Tuấn, trước hết là nhắc tới một nhân cách vĩ đại. Nói như Phan Bội Châu, Hưng Đạo vương “lập được công lớn, dẹp yên được giặc mạnh”, trở thành “người anh hùng bậc nhất chống ngoại xâm” là “nhờ có ba điều” “thứ nhất là lòng nhiệt thành”, “thứ hai là có kiến thức cao” và “thứ ba là nhân cách cao thượng”11. Giữa ông với các vua Trần luôn duy trì những mối quan hệ tốt đẹp, thủy chung như nhất. Đó có thể được coi là ví dụ điển hình, biểu trưng cho tinh thần hòa đồng, gắn kết trong dòng tộc nhà Trần; cũng là cội nguồn sức mạnh của hào khí Đông A, tạo nên những thành tựu rực rỡ về võ công, văn trị một thời. Xin được dẫn lời của Bắc kỳ Kinh lược đại sứ Hoàng Cao Khải, khắc trong bia văn đền Vạn Kiếp để ca ngợi khí tiết và sự nghiệp cái thế của Đức thánh Trần “Với nhà Trần, vương Trần Hưng Đạo – TG là người tin cậy giữ thành, giữ nước, gửi trọng trách nơi triều đình, được mọi người quy phụ, chư tướng dốc lòng. Giả sử nghe lời di huấn của cha, vua nhỏ dễ lộng quyền, hoặc thay rèm đổi ngôi, hoặc đổi ấn xưng vương… Ngài thì đang khi nguy cấp lại an nhàn chấn chỉnh, ngôi vị cực tôn lại xử sự khiêm nhường, cầm dao kể tội con hư, bỏ đầu nhọn theo hầu xa giá. Môn hạ không gây bè đảng, xã tắc phúc bởi điều hòa. Vì thế mà vén trời vạch đất, là vĩ nhân của muôn đời. Xuất quỷ nhập thần, là hạo nhiên chính khí giữa khoảng trời đất”12. ________________ 1. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, 2. Ngô Thì Sỹ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10. Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, 34, 106, 37, 80, 54, 72. 6. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, 11. Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 2, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990, 12. Hưng Đạo vương từ bi ký, in trong Di sản Hán Nôm Côn Sơn – Kiếp Bạc – Phượng Sơn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, Nguồn Tạp chí VHNT số 339, tháng 9-2012 Tác giả Phạm Đức Anh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn 1228-1300 là một danh nhân quân sự cổ kim của thế giới. Ngay từ nhỏ, cha của ông, Trần Liễu đã kén những thầy giỏi dạy cho Quốc Tuấn, ký thác cho con hội đủ tài võ. Lớn lên, Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh, xuất chúng, đọc rộng các sách cả văn lẫn võ. Trong đời mình, Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần nạn nước. Nhưng ông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùng cứu sức mạnh xuất quỷ nhập thần của quân Mông Cổ, những kẻ yếu bóng vía như Trần Nhật Hiệu, được Vua Trần Thái Tông hỏi thì chỉ lấy nước viết bên mạn thuyền hai chữ 'Nhập Tống', để mong nhờ Thiên triều che chở. Trong khi Thái Sư Trần Thủ Độ lại thưa rằng, 'Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ hạ đừng lo...', Trần Hưng Đạo được cử đốc suất tả hữu tướng quân chống giặc và với tài điều binh khiển tướng tài tình, quân xâm lược Mông Cổ bị đánh thua phải chạy dài, không dám cướp phá và vĩnh viễn từ bỏ "mộng xâm lược" Đại lược "xoay chuyển tình thế"Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn 1228-1300 là một danh nhân quân sự cổ kim của thế giới. Ngay từ nhỏ, cha của ông, Trần Liễu đã kén những thầy giỏi dạy cho Quốc Tuấn, ký thác cho con hội đủ tài võ. Lớn lên, Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh, xuất chúng, đọc rộng các sách cả văn lẫn võ. Trong đời mình, Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần nạn nước. Nhưng ông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùnh cứu Binh thư yếu lược, Trần Hưng Đạo viết “Người giỏi thắng không cần thắng nhiều lần, mà cần toàn thắng, đảm bảo thắng”. Điều đó đồng nghĩa với việc làm cách nào để có được chiến thắng cuối cùng mới là điều quan trọng nhất. Thế nên, cuộc kháng chiến quân Nguyên Mông - đội quân hùng mạnh bậc nhất thế giới thời trung đại - của quân dân nhà Trần, dưới sự chỉ đạo của ông, được tiến hành theo một phương thức rất đặc cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 1285, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã nhanh chóng thay đổi chiến lược chuyển từ trực tiếp đối đầu với khí thế hung hãn của quân Nguyên, sang lui binh. Hạ lệnh cho tất cả các cánh quân rút lui, ông cùng với hai vua Trần thu quân về Vạn Kiếp Chí Linh, Hải Dương. Giặc truy kích đến Vạn Kiếp, Trần Hưng Đạo lại đưa quân về Thăng Long. Khi giặc đuổi theo đến Thăng Long, ông điều binh rút về Thiên Trường Nam Định. Cứ thế, quân ta tránh đụng độ với giặc trong nhiều thángỞ đây, một chiến thuật có vẻ bất thường nhưng lại là một trong những điểm đặc sắc nhất thể hiện óc chiến lược sắc sảo của Trần Hưng Đạo. Với sức mạnh áp đảo, quân Nguyên muốn đánh nhanh, thắng nhanh. Bị chúng lấn át ngay trong những đợt tấn công đầu tiên, ông hiểu rằng, đối đầu ngay tức thì không phải là một chiến thuật đắc dụng trong tình huống này vì những đội quân muốn đánh nhanh thắng nhanh thường có một nhược điểm chí tử đó là công tác hậu cần. Và thất bại của quân Nguyên Mông năm 1258 góp phần chỉ rõ điểm mấu chốt Trần Hưng Đạo, thay vì tiến hành những cuộc tiến công trực diện ít có cơ hội chiến thắng, đánh vào điểm yếu này của địch sẽ là cách tốt nhất lấy đi sức mạnh của chúng. Áp dụng chiến lược lui binh, ông khiến cho địch không thể đánh theo cách đánh của chúng, nói theo cách khác, ông chủ động kéo dài cuộc chiến đấu. Khi đó, thiếu lương thực, địch tự làm chúng suy được chìa khoá tiêu diệt địch, khi quân Nguyên lần thứ ba đưa quân sang xâm lược Đại Việt 1287- 1288, Trần Hưng Đạo đã tự tin tâu với vua Trần "Thế giặc năm nay dễ phá". Và quả nhiên, sau khi tướng Trần Khánh Dư tiêu diệt đội binh lương của quân địch tại Vân Đồn cuối năm 1287, quân địch lại rơi đúng vào tình huống ngặt nghèo về lương thảo, đã từ thế chủ động tấn công sang tình trạng dần mất phương hướng và rơi vào thế trận chiến tranh nhân dân của nhiên, nếu coi chiến lược lui binh của Trần Hưng Đạo là khởi đầu của một kế hoạch xoay chuyển tình thế khoét sâu nhược điểm, đẩy giặc vào tình thế khốn đốn và lấy lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường, thì cuộc chiến của nhân dân mỗi nơi giặc đến chính là bước thứ hai - sự phản công nắm chắc phần thắng. Vì thế mới nói sự phối hợp ăn ý giữa việc lui binh của quân triều đình với các cuộc tiến công tại chỗ của nhân dân khắp nơi chiến tranh du kích là yếu tố quyết định thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông dưới sự điều binh, khiển tướng tài tình của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.“Hình dáng trận như chữ nhân, tiến cũng là chữ nhân, thoái cũng là chứ nhân, họp lại cộng làm một người, tan ra cũng làm một người, một người làm một trận, nghìn muôn người hợp làm một trận, nghìn muôn người động làm một trận”, Trần Hưng Đạo nói về sức mạnh của chiến tranh nhân tướng Võ Nguyên Giáp viết về Trần Hưng ĐạoNhân dịp kỷ niệm 700 năm ngày mất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ngày 16/9/2000, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có bài viết, Đất Việt trích đăng"Trong sự nghiệp hiển hách ba lần chống quân xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ XIII, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có vai trò đặc biệt quan trọng. Ông là một nhà chính trị-quân sự đại tài được vua Trần tin yêu, giao quyền tiết chế, thống suất tất cả vương hầu, tôn thất, tướng lĩnh, điều động binh nhung, khí giới. Khi quân Mông-Nguyên xâm lược lần thứ nhất 1258, ông được chỉ huy các tướng lĩnh điều quân thủy bộ bảo vệ vùng biên giới phía Tây Bắc. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai 1285 và thứ ba 1288, ông được cử làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân đánh lĩnh của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở quyết tâm diệt địch và thắng địch không gì lay chuyển. Ngay những lúc gian nan nguy hiểm nhất, ông vẫn tin vào thắng lợi, giữ vững lòng quân, lòng dân. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến lần thứ hai 1285, khi sự mất còn của nền độc lập nước nhà chỉ còn trong gang tấc, quân xâm lược đã chiếm được nhiều địa bàn trọng yếu, trong đó có cả kinh thành Thăng Long và phủ Thiên Trường, nội bộ quý tộc và quan lại triều Trần đã có người nao núng, hàng giặc, Trần Quốc Tuấn vẫn hiên ngang bất khuất, giữ vững lòng tin son sắt vào thắng lợi. Câu nói bất hủ của ông "Bệ hạ muốn hàng, trước hết hãy chém đầu thần đi đã", đã nêu một tấm gương lớn về tinh thần quyết chiến và ý chí "Sát Thát" trước triều đình, trước toàn quân và toàn dân năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở chỗ ông nhận thức rất rõ nhân dân là nguồn sức mạnh giữ nước. Nguồn sức mạnh đó phải được xây dựng, bồi dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời chiến, bằng nhiều chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội. Ông chủ trương "Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước".Ông xem, việc đoàn kết nội bộ là một nhân tố cực kỳ quan trọng để tạo thành sức mạnh. Nhìn lại ba cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên thắng lợi, ông xác định "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức" là nhân tố đã làm cho "quân địch phải chịu bị bắt" bỉ tựu tự cầm. Ông rất coi trọng đoàn kết quân và dân, đoàn kết trong quân đội "như cha con một nhà".Chính nhờ nguồn sức mạnh đó mà dân tộc Việt Nam đã có thể đứng vững và vượt qua những thử thách ghê gớm của họa xâm lăng khốc liệt do đế quốc Nguyên Mông gây tài giỏi của Trần Quốc Tuấn là biết chuyển tình thế từ hiểm nghèo thành thuận lợi, xoay chuyển thế trận, tạo nên thời cơ. Và khi thời cơ đến thì chuyển sang phản công; tiến công; chọn đúng hướng; đúng mục tiêu; đánh những trận quyết định; khiến kẻ thù không kịp trở tay, trong chốc lát đã bị thất thao lược của Trần Quốc Tuấn nổi bật là tính chủ động và linh hoạt, "biết người, biết mình", chủ động điều địch, chủ động đánh địch, xem xét quyền biến... tùy thời mà làm"... Và theo đó, một học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại phong kiến đã hình thành, học thuyết quân sự dân tộc trong chiến tranh giữ nước. Chính trên cơ sở này, Lê Lợi - Nguyễn Trãi phát triển thành học thuyết quân sự dân tộc trong chiến tranh giải phóng; Nguyễn Huệ tiếp tục phát triển thành học thuyết quân sự dân tộc trong khởi nghĩa của nông dân, trong chiến tranh giữ nước...Với tài năng chính trị quân sự kiệt xuất, tấm lòng tận trung với vua, với nước, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã cùng với triều đình nhà Trần và quân dân Đại Việt bảo vệ trọn vẹn độc lập dân tộc, đưa triều đại nhà Trần lên hàng triều đại thịnh trị trong lịch sử trung đại, để lại những bài học lịch sử có giá trị về dựng nước và giữ nước. Những thành tựu về võ công và văn trị, những giá trị vật chất và tinh thần thời Trần đã làm vẻ vang lịch sử dân tộc và là niềm tự hào lớn lao cho Tổ lần xâm lược thất bại ở Đại Việt năm 1258, quân Nguyên không dám khinh suất. Trong các đợt xâm lược lần thứ hai 1285 và lần thứ ba 1288, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt phái đi những đạo quân đông gấp cả chục lần so với lần đầu và lần sau chuẩn bị chu đáo hơn lần trước lần thứ 2, quân Nguyên có tới 50 vạn quân, lần thứ 3 quân Nguyên có 30 vạn quân, trong đó có cả thuỷ binh và chưa tính đội quân chở lương.Tướng giặc Ô Mã Nhi đã thẳng thừng đe dọa quan quân nhà Trần rằng "Chỉ trong chốc lát, núi sông các ngươi sẽ thành đất bằng, vua tôi các ngươi sẽ ra cỏ mục". Địch mong muốn dùng sức mạnh ào ạt khiến quân ta khiếp đảm, tan tác, nhưng cuối cùng đều bị Trần Hưng Đạo chỉ huy bị bẻ gãy nhanh ThêmNghiên cứu loại bỏ các khí độc trong môi trường Nguyễn Hoài Châu và nhóm nghiên cứu Viện CN môi trường, Viện Hàn lâm KH&CN VN đã phối hợp với Viện Hóa học Hữu cơ Zelinskiy thuộc Viện Hàn lâm KH thực hiện Nghiên cứu phát triển phương pháp hấp phụ loại bỏ các khí độc NH3, NO2, H2S, SO2 trong môi trường nước bằng các vật liệu composite hiện đại trên cơ sở than hoạt tính biến tính, zeolite dạng cation và các polime phối trí kim loại–hữu CơThanh Hóa Đánh giá Dự án quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồngSáng ngày 26/5/2023, tại xã Nga Thủy huyện Nga Sơn, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa Liên hiệp hội tổ chức hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng để tăng cường khả năng chống chịu với rủi ro biến đổi khí hậu ở tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam” Dự án do Tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới tài Ngãi Hội thảo Giải pháp nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vữngNhân dịp chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5, ngày 16/5/2023, tại thành phố Quảng Ngãi, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Hội thảo khoa học "Giải pháp góp phần nâng cao thu nhập bình quân đầu người, giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”.Bình Thuận Giới thiệu một số mô hình sản xuất nông nghiệpNhân dịp kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2023 trên địa bàn tỉnh. Sáng ngày 16/5/2023, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức hội thảo “Giới thiệu một số mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn sinh học, bền vững”.Cần tăng cường chuyển giao công nghệ hiện đạiChuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là một kênh quan trọng để mỗi ngành, mỗi địa phương giải quyết tốt các vấn đề khoa học, kinh tế - xã hội. Thời gian qua, tại nước ta đã triển khai nhiều chương trình, kế hoạch thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ từ nước ngoài để ứng dụng trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên, mang lại nhiều kết mớiHội Chăn nuôi Việt Nam luôn đồng hành với người chăn nuôiTrong nhiều năm qua, Hội Chăn nuôi Việt Nam luôn đồng hành với người chăn nuôi vượt qua khó khăn đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, phản biện, kiến nghị các giải pháp, phòng, chống dịch cúm, các chính sách khuyến khích chăn nuôi, bảo vệ quyền lợi chính đách của người sản xuất, kinh doanh gia cẩm, góp phần khôi phục và phát triển chăn nuôi gia cầm bền cứu loại bỏ các khí độc trong môi trường Nguyễn Hoài Châu và nhóm nghiên cứu Viện CN môi trường, Viện Hàn lâm KH&CN VN đã phối hợp với Viện Hóa học Hữu cơ Zelinskiy thuộc Viện Hàn lâm KH thực hiện Nghiên cứu phát triển phương pháp hấp phụ loại bỏ các khí độc NH3, NO2, H2S, SO2 trong môi trường nước bằng các vật liệu composite hiện đại trên cơ sở than hoạt tính biến tính, zeolite dạng cation và các polime phối trí kim loại–hữu CơQuảng Ngãi Chuẩn bị Cuộc thi Sáng tạo Robot Quảng Ngãi lần thứ INgày 8/6/2023, Liên hiệp các Hội các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng ngãi, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo Robot Quảng Ngãi tổ chức cuộc họp trực tiếp, trực tuyến để rà soát toàn bộ nội dung về công tác phối hợp tổ chức. Ông Lê Quang Thích, Chủ tịch Liên hiệp Hội, Trưởng Ban Tổ chức Cuộc thi, chủ trì cuộc sinh hoạt tư tưởng ý nghĩa của Tạp chí Việt Nam hội nhậpHướng tới kỷ niệm 98 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21/6/1925 – 21/6/2023, Ngày 8/6, Cấp Ủy và Lãnh đạo Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý, Tạp chí Việt Nam Hội nhập tổ chức Lễ báo công và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Lễ biểu dương Trí thức – Doanh nhân làm theo lời BìnhTôn vinh 18 cá nhân tiêu biểu của phong trào “Học không bao giờ cùng”Vừa qua, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thái Bình đã tổ chức Hội nghị đại biểu trí thức tỉnh Thái Bình năm 2023. Tới dự có đồng chí Ngô Thị Kim Hoàn, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; Vũ Thanh Vân, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh; Trần Thị Bích Hằng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo Xây dựng xã hội học tập tỉnhNghệ An Hội Điều Dưỡng kỷ niệm 30 năm thành lậpSáng 2/6, Hội Điều dưỡng tỉnh Nghệ An đã kỷ niệm 30 năm thành lập 3/6/1993 - 3/6/2023 và tổ chức hội thảo nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh. Tham dự lễ kỷ niệm có các lãnh đaọ, nguyên lãnh đạo Sở Y tế tỉnh qua các thời kỳ và các hội viên của Hội. Đền Thờ Các Vua Trần-Thiên Trường-Thái Bình “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” Thượng Phụ Trần Hưng ạo & Thái Sư Trần Thủ ộ Hai lời nói – hai nhân cách anh hùng. Năm 1257 quân Mông Cổ xâm lăng nước ta lần thứ I, Thái Sư TrầnThủ ộ lúc ấy đã ở tuổi 63 sinh 1194 mất 1264 và Trần Quốc Tuấn đang vừa đúng 29 tuổi được cử thống lĩnh binh mã lên miền Bắc chống cự. Cột trụ của nhà Trần và của đất nước lúc ấy là Thái Sư Trần Thủ ộ, ông đã nói với vua Trần một câu nói lịch sử “ầu Tôi Còn, xin Bệ hạ đừng lo” Năm 1284, hai mươi bẩy năm sau, Mông Cổ xâm lăng qui mô lần thứ II, lúc này Trần Hưng ạo đã 56 tuổi và Thái Sư Trần Thủ ộ đã mất, vua Trần Nhân Tôn phân vân giữa kẻ chiến người hòa, đến hỏi Trần Hưng ạo, và với tinh thần sát thát cương quyết, vị lão anh hùng có 26 năm kinh nghiệm điều binh khiển tướng này đã trả lời “Bệ hạ muốn hàng, xin hãy Chém ầu Tôi trước!” Hai lời nói lịch sử cách nhau một phần tư thế kỷ mang hai ý nghĩa khác nhau “ầu tôi còn…” rõ là lời của nhà chính trị, tự tin vào “cái đầu” của mình, đầu chưa rời thì hy vọng vẫn còn, mưu sự vẫn có cơ thành, mưu trí vẫn đủ mãnh lực để đuổi giặc. Trần Thủ ộ nổi tiếng là người cương quyết, năm 1224 mới vào cung ít lâu làm iện tiền chỉ huy sứ cho Lý Huệ Tôn, ông đã nắm ngay mọi giềng mối và sửa soạn kế hoạch dựng Trần diệt Lý, chỉ một năm sau, 1225, ông đã đạt mục đích và trở thành Thái Sư triều Trần. Sau khi “nhổ cỏ nhổ cho tận rễ” diệt tới tận cùng nhà Lý 2, ông một tay cáng đáng quốc sự, chỉnh đốn triều chính, luyện binh tuyển tướng, quân số thời đó lên tới 200,000 người 3, nên khi Mông Cổ sang ta đã có sẵn quân lực để đánh. Trần Hưng ạo kém Trần Thủ ộ 34 tuổi, trong gia tộc Ngài đứng vào hàng cháu của Trần Thủ ộ. Sử gia thường cho Ngài giữ trọn chữ Trung với Vua với Nước nên đã không theo lời cha là An Sinh Vương Trần Liễu để đoạt lấy cơ nghiệp vì mối hận của Trần Liễu đã bị Trần Thủ ộ ép vợ Trần Liễu đang mang thai lấy Trần Thái Tông Trần Cảnh là anh em với Trần Liễu. Ngoài chữ Trung, còn phải kể tới tương quan giữa Trần Thủ ộ và Trần Hưng ạo trong tinh thần gia tộc, Trần Hưng ạo phải kính nể Trần Thủ ộ, trong tinh thần ái quốc Trần Hưng ạo không thể phủ nhận lòng ái quốc chân chính của Trần Thủ ộ. Thật vậy, Trần Thủ ộ có thủ đoạn tàn nhẫn với nhà Lý và chỉ với nhà Lý mà thôi, còn việc đảo ngược luân thường đạo lý ép người này lấy người kia cũng chỉ xảy ra trong nội bộ họ Trần với dụng ý xây dựng cơ đồ vững chãi cho họ Trần 4. Truyện kể lại cho ta một vài nét khác về nhân cách Trần Thủ ộ một tên lính canh dinh vô tình chặn cửa không cho bà Thái Sư vào dinh, Trần Thủ ộ nghe chuyện không trách người lính canh vô lễ mà còn khen là làm đúng lệnh. Trong triều có kẻ tâu vua là quan Thái Sư chuyên quyền, đi kiệu qua Hoàng Cung không xuống kiệu, Trần Thủ ộ nghe, khen phải, và từ đó đi qua Hoàng Cung ông đều xuống kiệu. Một người văn võ toàn tài như Trần Hưng ạo chắc đã cân nhắc những điều đó và đã quán triệt rộng rãi chữ Trung với chữ Hiếu, nên Ngài đã tận trung báo quốc, giữ phẩm cách hoàn toàn của một binh lược gia, nên câu nói lịch sử “Nếu Bệ hạ muốn hàng xin chém đầu tôi trước” phản ảnh cái hào khí của một vị Nguyên Soái, ý chí hùng mạnh dứt khoát như đường gươm. Ở Trần Hưng ạo, trắng, đen, chiến, hòa, phải trái rõ ràng minh bạch tựa mặt trời mặt trăng. Một bậc đại trượng phu như vậy hoàn toàn phù hợp với đạo lý ông phương, và như Quan Vân Trường của Tàu, Ngài đã được thờ phụng ngang hàng Thần Thánh, ngay khi còn sống đã được thờ ở sinh từ và khi chết 1300 Ngài trở thành vị Thần oai linh. Bình dân tin rằng Ngài trừ được yêu quỷ ma quái và nếu Chử ồng Tử là vị Chủ ạo Tiên, thì ức Thánh Trần trở thành vị Thần của ạo Nội, là nguyên lý Cha, bên cạnh nguyên lý Mẹ Chúa Liễu Hạnh, là hai nguyên lý hòa hợp Trời ất của tín ngưỡng bình dân Việt-Nam từ 700 năm nay. Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ nhắc nhở ta công đức của đấng Cha Mẹ độ trì dân tộc vậy. Những yếu tố làm thăng hoa Việt sử đời Trần. ược thừa hưởng 216 năm kiến quốc của chín đời vua Lý, nhà Trần đã tiếp tục kiến quốc, cứu quốc và phát triển quốc gia tới đỉnh thăng hoa lịch sử. Không phải tự nhiên “Trời cho” mà hai đời Lý Trần này sinh vô kể lương tướng tôi hiền như vậy. Suốt 400 năm hai đời Lý Trần đã thành công vì giữ được ba cơ sở tinh thần dân tộc sau đây sở tinh thần dân bản Hùng Vương. Tuy bị Tàn đô hộ gần ngàn năm, tinh thần dân bản Văn Lang vẫn kiên thủ ở làng xã và tới Lý, Trần tinh thần này lại có dịp vươn lên. Các vua quan thời Lý, Trần rất gần gũi với dân, vua Lý lấy áo đắp cho người già yếu, vua Trần cùng hoàng thích “gá chân nhau nằm ngủ”, tướng sĩ coi nhau như cha con anh em đặc biệt là Phạm Ngũ Lão, lúc quốc biến thì Vua cẩn trọng hội ý bô lão toàn quốc trọng lễ, lúc tuyển tướng chọn quân thì dựa trên đức độ hiền tài trọng hiền nên những người áo vải dân đen như Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt, Trần Khánh Dư bán than, Nguyễn Khoái, Yết Kiêu, Dã Tượng… đều có dịp lập công với nước. Tinh thần dân bản này đã huy động được toàn dân từ làng xóm thôn quê, từ tận “đáy” dân tộc, nên Lý Thường Kiệt mới phá Tống Bình Chiêm, Hưng ạo mới ba lần đại phá Mông Cổ, bằng tự lực tự cường không có ngoại bang nào trợ giúp đằng sau. 2-Cơ sở giáo dục văn ôn vũ luyện Cái học của đời Lý Trần là đạo học làm người quân bình văn và võ, không chuộng hư văn khoa bảng, nên đời Lý mới xuất ra những bậc văn võ toàn tài như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Lý ạo Thành… đời Trần như Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão… Các vua đời Lý, Trần là người chịu học đạo thánh hiền và dũng lược, lúc quốc sự đều thân chính đi đẹp giặc, vào sinh ra tử với quan quân, chứ không ngồi hưởng ngai vàng ngâm hoa vịnh nguyệt như các đời sau. Truyền thống văn ôn vũ luyện đúng là truyền thống giáo dục thích hợp với xã hội Việt-Nam, luôn luôn tao loạn và toàn dân phải thường trực phòng vệ tổ quốc. Truyền thống này, đi song song với bao chiến công hiển hách, hiển nhiên là cơ sở giáo dục đúng nhất cho con người Việt-Nam. Thời loạn, nó cung ứng cho dân tộc những chiến sĩ thao lược, thời bình nó hun đúc tinh thần thượng võ, ngay thẳng và quả cảm, có thể ngăn ngừa được kẻ gian ác độc tài hại dân hại nước. Một xã hội trọng văn, một lớp sĩ “trói gà không chặt”, khó chống được giặc trong thời loạn, khó cản được tà trong thời bình”. Trần Quốc Tuấn học ở chùa từ năm lên 6 tuổi và được rèn luyện chẳng khác chi một hiệp sĩ samurai thời trung cổ Nhật Bản. Tiếc thay truyền thống giáo dục cao đẹp này từ thế kỷ 15 trở đi sau Nguyễn Trãi bắt đầu bị khoa cử hư văn làm lu mờ dần bằng tiêu chuẩn giáo dục “Tiên học lễ hậu học văn”. sở tinh thần dung hóa khai phóng. Nhà Lý đã đủ thế lực để xác định với phương Bắc. “Nam Quốc sơn hà Nam đế cư” Lý Thường Kiệt thì nhà Trần cũng thừa khả năng để huy động toàn quốc vào đại cuộc. “Thái bình tu nỗ lực Vạn cổ thử giang san” Trần Quang Khải “Tu nỗ lực” ở đây là công trình tổng hợp văn hóa tư tưởng ại Việt bắt nguồn từ truyền thống dân bản nhân chủ Văn Lang, trọng hiền trọng lễ từ hơn 2000 năm, với Tam giáo Phật, Nho, Lão đã đã hiện diện được 1000 năm trên đất nước tính đến thế kỷ 12-13. Bốn trăm năm thịnh trị Lý, Trần đã nhào nặn đúc kết một nền văn hóa bền vững, nằm trong đại khối văn hóa ông phương nhưng vẫn mang sắc thái đặc biệt dân tộc. Phật giáo được xiển dương theo hướng “Phật tại tâm” của Thiền môn Vạn Hạnh, Trúc Lâm, Nho giáo được phát huy theo tinh thần “cùng lý chính tâm” của Chu Văn An, Lão giáo phối hợp với nội đạo Thần Tiên và cùng với Phật, Nho, bổ túc cho đạo sống quân bình xuất xử, tình và lý, thiên nhiên và tâm linh. Nhà Trần đã kết tạo được một “cốt cách” văn hiến, một bản lãnh trí thức cho kẻ sĩ Việt, bền chặt đến nỗi trải bao thăng trầm thử thách, nó vẫn tiềm tàng trong một Nguyễn Trường Tộ theo mới mà không bỏ gốc, trong một Phan Chu Trinh sâu rễ bền gốc để thâu hóa tân trào, một Nguyễn Thái Học “không thành công thì thành nhân” phản ảnh rõ rệt bản lãnh truyền thống ại Việt mà nhà Trần đã lưu lại. CHÚ THÍCH 1 Năm 1225 khi lập Trần Cảnh lên ngôi Trần Thái Tông, Thái Sư Trần Thủ ộ lúc ấy đã ở tuổi 31, và nhà vua mới có 8 tuổi, nên mọi việc chính sự đều một tay Trần Thủ ộ lo liệu. 2 Tuy vậy vẫn có người họ Lý trốn thoát, như Bàng Bá Lân vốn dòng dõi họ Lý, Tiến Sĩ Nguyễn Tư Giản đời Nguyễn, nhà văn Nguyễn Triệu Luật… đều là dòng dõi họ Lý. 3 Theo ước lượng, dân số Việt-Nam thời Trần chỉ độ ba triệu người. 4 Nhà Trần dùng khoa Tử Vi vào quốc sự nhân dụng, có thể vì thế Trần Cảnh 8 tuổi được tuyển lựa lên ngôi, vợ Trần Liễu có mang được đưa vào làm Hoàng Hậu… Môn phái Tử Vi đời Trần còn truyền tới nay.

trần thủ độ và trần hưng đạo